Chất lượng thân cọc
Good Hope là công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn,thiết kế, thi công trọn gói các hạng mục công trình nhà ở, chung cư, khách sạn,..., đầu tư xây dựng các công trình nhà lô, biệt thự...
Chuyên mục:Thiết kế nhà đẹp
Sua nha | sua chua nha | cam nang sua nha | dich vu sua nha | chong tham | chong dot | son nha | cai tao nha
| hư hỏng bề ngoài của cọc | thân cọc bị biến dạng |
Khối lượng kiểm tra chất lượng bê tông thân cọc
| Thông số kiểm tra | Phương pháp kiểm tra | Tỉ lệ kiểm tra tối thiểu, % |
| Sự nguyên vẹn của thân cọc | - So sánh thể tích bê tông đổ vào lỗ cọc với thể tích hình học của cọc. - Khoan lấy lõi. - Siêu âm, tán xạ gamma có đặt ống trước. - Phương pháp biến dạng nhỏ (PIT, MIM), quan sát khuyết tật qua ống lấy lõi bằng camera vô tuyến. - Phương pháp biến dạng lớn PDA. | 100
1-2% + phương pháp khác 10-25% + phương pháp khác
≥ 50
4% và không ít hơn 5 cọc |
| Độ mở rộng hoặc độ ngàm của mũi cọc vào đá | Khoan đường kính nhỏ (36mm) ở vùng mở rộng đáy hoặc xuyên qua mũi cọc | 2-3 cọc lúc làm thử hoặc theo tỉ lệ cao hơn tùy công trình |
| Cường độ bê tông thân cọc | - Thí nghiệm mẫu lúc đổ bê tông. - Thí nghiệm trên lõi bê tông lúc khoan. - Theo tốc độ khoan (khoan thổi không lấy lõi). - Súng bật nẩy hoặc siêu âm đối với bê tông ở đầu cọc. | Theo yêu cầu của tư vấn giám sát. |
Chú thích bảng
- Thông thường cần kết hợp từ 2 phương pháp khác nhau trở lên để tiến hành so sánh cho một thông số kiểm tra nêu ở bảng này. Khi cọc có L/D > 30 thì phương pháp kiểm tra qua ống đặt sẵn sẽ là chủ yếu.
- Lớp bê tông bảo vệ, đường kính cọc và hình dạng bề mặt ngoài của cốt thép có thể kiểm tra ở chỗ đầu cọc, khi đã lọai bỏ lớp bê tông cặn ở phía trên cốt đầu cọc.
- Tỉ lệ cần kiểm tra chất lượng thân cọc nêu ở bảng 15.1 là tối thiểu, gần như bắt buộc thực hiện đối với đối với mọi công trình cọc nhồi, nếu không làm như thế thì độ tin cậy của cọc nhồi sẽ thấp.
- Mức độ kiểm tra nhiều hay ít thực ra còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố như tầm quan trọng của công trình (ý nghĩa công trình về kinh tế, lịch sử và vốn đầu tư), điều kiện địa chất công trình, kinh nghiệm của nhà thầu, sự hoàn thiện (tính rủi ro) của công nghệ, cách tiếp thu lực và mức độ tận dụng ứng suất lớn nhất cho phép… Để xác định khối lượng và phương pháp kiểm tra nên dựa vào thang điểm nêu ở bảng sau có lẽ là chặt chẽ và khoa học nhất.
- Còn một kiểm tra cuối cùng về cọc nhồi là thử tĩnh hoặc động để xác định sức chịu tải của cọc. Sai sót phát hiện ở khâu này (khi sức chịu tải nhỏ hơn dự tính) là hậu quả của những sai sót có thể từ khâu khảo sát, thí nghiệm, thiết kế , thi công .
Thang điểm sử dụng để kiểm tra tính toàn khối cọc khoan nhồi (cục đường bộ liên bang Mỹ, 1993)
| Mục | Mô tả hệ số | Đánh giá độ rủi ro Ra | Trọng số F | ||
| 1 | 2 | 3 | |||
| 1 | Giá trị hợp đồng móng (106 USD) | 0,25 | 0,25 ÷ 1,0 | > 1,0 | 1,0 |
| 2 | Kinh nghiệm và thiết bị của nhà thầu | Tốt | Trung bình | Yếu | 1,5 |
| 3 | Mức độ hiểu biết về điều kiện đất (qua khảo sát) và trình độ kinh nghiệm của thanh tra kĩ thuật | Cao | Trung bình | Thấp | 1,5 |
| 4 | Khó khăn và sự phức tạp của thi công | Thấp | Trung bình | Cao | 1,5 |
| 5 | Tính dự báo được (độ đồng nhất) của các điều kiện đất | Cao | Trung bình | Thấp | 1,5 |
| 6 | Điều kiện thiết kế (kể đến cơ chế sức kháng của cọc) | Ma sát | Hỗn hợp | Cọc chống | 1,0 |
| 7 | Phương pháp thi công | Khô | Có ống vách (để lại)
Có ống vách (rút lên)
|
Có dùng dung dịch và có ống vách tạm. Có dùng dung dịch không có ống vách tạm. | 1,0 0,5
1,5
2,5
3,0
|
| 8 | Loại tải trọng | Dọc trục | Dọc trục nghiêng | Ngang | 1,0 |
| 9 | Độ dài chất tải | Tải trọng di động tác động ngắn không va đập hoặc thấp
|
Va đập hoặc động | Thời hạn dài (tĩnh dài)
| 1,0
2,0 |
| 10 | Mức ứng suất theo tỉ lệ so với ứng suất lớn nhất cho phép | [0,33] x 1,2 | [0,67] x 1,2 | [0,1] x 1,2 | |
| 11 | Mức rủi ro cho đời sống hoặc thảm học kinh tế nếu hư hỏng xảy ra trong thời hạn phục vụ kết cấu | Thấp | Trung bình | Cao | |
Chú thích :
- Chỉ dẫn mang tính gợi ý sơ bộ, cuối cùng do kĩ sư thiết kế quyết định.
- Nhân với 1,2 (ở mục 10) nếu ống vách không để lại (rút lên).
Cách sử dụng bảng 15.2 như sau :
- Nhân độ rủi ro Ra (bằng các số 1, 2 hoặc 3 ở hàng ngang) với trọng số F (từ 0,5 đến 3) tùy theo xếp hạng ở cột bên.
- Lấy tổng từ mục 1 đến mục 9 các kết quả vừa tính.
- Nhân tổng vừa nói với mục 10 tùy theo mức ứng suất.
- Nhân kết quả vừa tìm với độ rủi ro (1, 2 hoặc 3) được xếp ở hạng mục 11. Nếu :
+ > 60 : Dùng kiểm tra chất lượng tối đa cộng với phương pháp thử không phá hoại (NDT) tối đa (kể cả đặt ống sẵn).
+ 42-60 : Kiểm tra chất lượng cộng với NDT.
+
Ở đây cần phân tích một số nguyên nhân chung và nhất là ở 2 giai đoạn khoan tạo lỗ và giai đoạn đổ bê tông. Các nguyên nhân hư hỏng cọc nhồi thường là :
- Do kém am hiểu một phần hay toàn bộ bản chất của đất nền và điều kiện địa chất thủy văn của khu vực xây công trình.
- Do không kiểm tra đầy đủ trên công trường của chủ đầu tư hay nhà thầu (thông thường qua tư vấn giám sát).
- Do hợp đồng quy định quá eo hẹp hoặc kế hoạch thi công với tiến độ không thích hợp cho những công việc cần phải cẩn thận.
- Do thiếu khả năng hoặc cẩu thả của nhà thầu khi thi công những công việc quá phức tạp.
- Sau cùng là do việc hoàn thành 1 cọc bao gồm một số thao tác đơn giản hợp thành nhưng những người thực hiện thiếu tinh tế và không có những kĩ xảo cần thiết (vì ít kinh nghiệm) mặc dù họ đã được lựa chọn khá kĩ, vẫn không làm chủ thật tốt.
Ở công đoạn tạo lỗ những hư hỏng có thể do hậu quả của :
- Kĩ thuật, thiết bị khoan hoặc loại cọc đã lựa chọn không thích hợp đối với đất nền.
- Mất dung dịch khoan bất ngờ (khi gặp các – tơ hoặc thạch cao) hoặc sự trồi lên đột ngột của đất bị sụt lở vào lỗ khoan : 2 sự cố này dễ tạo thành "ngoài dự kiến thiết kế ".
- Sự quản lí kém khi khoan tạo lỗ do sử dụng loại dung dịch có thành phần không thích hợp hoặc kiểm tra không tốt.
- Sự nghiêng lệch bấp bênh của hệ thống máy khoan lỗ khi gặp phải đá mồ côi hoặc lớp đá nghiêng. Những sai lệch này phụ thuộc vào hiệu quả và vào sự kiểm soát của thiết bị dẫn hướng, điều đó ắt dẫn đến tình trạng không tôn trọng độ thẳng đứng của cọc và vượt quá độ nghiêng dự kiến (cho phép) của thiết kế .
- Làm sạch mùn khoan trong lỗ khoan không tốt , đáy lỗ khoan có lớp cặn dày, sinh ra sự tiếp xúc xấu với lớp đất chịu lực tại mũi cọc và làm nhiễm bẩn và giảm chất lượng bê tông.
Công đoạn đổ bê tông vào cọc thường gặp những sai sót do một số nguyên nhân sau :
- Thiết bị đổ bê tông không thích hợp hoặc tình trạng làm việc xấu.
- Chỉ đạo công nghệ đổ bê tông kém : sai sót trong việc cấp bê tông , gián đoạn trong khi đổ, rút ống đổ quá nhanh.
- Sự cấp liệu không đều sẽ dẫn đến khối lượng bê tông chiếm chỗ ban đầu không đủ do đổ nhanh.
- Sử dụng bê tông có thành phần không thích hợp như độ sụt hoặc tính dẻo không đủ và dễ phân tầng.
Một số nguyên nhân khác làm hỏng hoặc làm giảm sức chịu tải của cọc có thể do :
- Sự lưu thông mạch nước ngầm làm trôi cục bộ bê tông tươi.
- Sự sắp xếp lại đất nền dẫn đến sự suy giảm ma sát của mặt bên hoặc sức chống ở mũi cọc.
- Thời gian dãn cách kéo dài giữa khâu khoan tạo lỗ và đổ bê tông vào cọc gây ra sự sụt lở đất ở vách lỗ khoan và lắng đọng cặn ở đáy lỗ khoan.
- Sử dụng khoan địa chất đối với cọc có đường kính quá bé, lúc đó bê tông không có đủ thời gian chiếm chỗ trong đất nền.
Sua nha | sua chua nha | cam nang sua nha | dich vu sua nha | chong tham | chong dot | son nha | cai tao nha | san-be-tong-cot-thep">san be tong cot thep | sàn-bê-tông-cốt-thép">sàn bê tông cốt thép
Tổng hợp





0 nhận xét: